Kỹ thuật và công nghệ

XU HƯỚNG THAY ĐỔI THỊ TRƯỜNG GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VẬT LIỆU – HÀNG HÓA TRONG NHÀ MÁY SẢN XUẤT: LÀM SAO ĐỂ DUY TRÌ SỰ HOẠT ĐỘNG ỔN ĐỊNH VÀ TĂNG TRƯỞNG

Quản lý vật liệu-hàng hóa trong nhà máy sản xuất, bao gồm di chuyển, lưu trữ và bảo vệ sản phẩm.

Quản lý vật liệu-hàng hóa trong nhà máy sản xuất, bao gồm di chuyển, lưu trữ và bảo vệ sản phẩm, tất cả đều phải được xử lý dựa trên công nghệ quản trị tối ưu. Kết hợp với các giải pháp công nghệ vật lý khác — bao gồm máy móc đóng gói, cần trục, băng tải và xe nâng — tất cả đều có thị trường, công nghệ và các cơ hội riêng biệt nhằm hỗ trợ và thúc đẩy ngành công nghiệp quản lý vật liệu hàng hóa trong nhà máy sản xuất được phát triển mạnh mẽ.

Về lý thuyết truyền thống, các phân đoạn luân chuyển và quản lý vật liệu-hàng hóa thường bị phân tán ra thành nhiều khâu vận hành khác nhau. Sự phân mảnh này giúp cho các nhà máy sản xuất có thể chuyên môn hóa riêng biệt từng lĩnh vực vận hành tương ứng với yêu cầu và năng lực tại thời điểm đó của họ. Trong những năm gần đây, các phân khúc này đã ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn, trở thành thị trường độc lập và chủ đạo tạo ra được ảnh hưởng đối với các chu kỳ kinh tế và lợi ích tăng trưởng cho các nhà máy sản xuất.

Tuy nhiên, ngày nay, các nhà sản xuất đang gặp khó khăn hơn trong việc thích ứng với một số xu hướng. Điển hình có thể nói đến chính là tốc độ đô thị hóa nhanh hơn và lực lượng lao động trong ngành đang già đi đòi hỏi các nhà sản xuất phải cung cấp các dịch vụ và sản phẩm tích hợp và chuyển sang tự động hóa, số hóa hoặc tinh gọn hơn, giảm bớt sự phụ thuộc vào yếu tố con người. Việc tăng tốc áp dụng thương mại điện tử trên quy mô lớn cũng đang gây thêm áp lực lên thị trường này, đòi hỏi mức độ chính xác và chi tiết cho từng danh mục sản phẩm (SKU) phải tăng cao hơn. Ví dụ: Thời gian sản xuất, giao hàng và khả năng đáp ứng.

Ngoài ra, sự ra đời của trí tuệ nhân tạo (AI) và tự động hóa đã vô tình tạo ra các phân mảnh cho các đoạn thị trường mới. Có thể liệt kê ra các ví dụ: Phương tiện dẫn đường tự động (AGV) và các hệ thống lưu trữ và truy xuất tự động (ASRS). Cả hai giải pháp công nghệ này đều đang phát triển với tốc độ nhanh hơn nhiều so với các phân đoạn truyền thống khác và tạo ra những thách thức đáng kể cho các OEM trong vấn đề cập nhật, nâng cấp và tối ưu.
 

CÁC XU HƯỚNG MỚI

Quy mô thị trường Thiết bị quản lý và luân chuyển vật liệu-hàng hóa Châu Á Thái Bình Dương đạt hơn 50 tỷ USD vào năm 2018 và sẽ tăng trưởng với tốc độ CAGR khoảng 7% từ năm 2019 đến năm 2025. Các đơn hàng xuất nhập khẩu dự kiến sẽ đạt hơn 120 triệu đơn vào năm 2025. Tốc độ công nghiệp hóa nhanh chóng ở một số quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và đặc biệt là Việt Nam đang thúc đẩy thị trường thiết bị quản lý và luân chuyển nguyên vật liệu-hàng hóa Châu Á Thái Bình Dương.
Đây cũng là khu vực kinh tế chứng kiến sự gia tăng trong việc áp dụng các công nghệ tự động trong các lĩnh vực công nghiệp khác nhau để cải thiện hiệu quả và hiệu suất của các quy trình kinh doanh. Các quốc gia này liên tục tham gia vào việc tăng cường khả năng sản xuất hoặc chế tạo để tránh phụ thuộc vào các khu vực khác trong việc nhập khẩu các bộ phận và phụ kiện máy móc.

THỊ TRƯỜNG XUẤT NHẬP KHẨU MÁY MÓC VÀ THIẾT BỊ

Việt Nam hiện nay đang sử dụng nguồn cung cấp máy móc chủ yếu đến từ các nước Châu Á bao gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan. Các nguồn cung này chiếm khoảng 70% nguồn máy móc nước ngoài tại thị trường Việt Nam do giá cả cạnh tranh và sự ưa chuộng của người tiêu dùng. Các nhà xuất khẩu đáng chú ý khác là các quốc gia ASEAN bao gồm Thái Lan, Malaysia và Indonesia cũng như các quốc gia phương Tây như Đức, Mỹ và Ý.

Thời gian gần đây, Việt Nam trở thành một điểm đến sản xuất thay thế chính cho các doanh nghiệp đang tìm cách đa dạng hóa chuỗi cung ứng của mình trong bối cảnh những bất ổn do đại dịch và chiến tranh thương mại Mỹ - Trung gây ra.

Năm 2020, Việt Nam có khoảng 110.000 doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, cao gấp khoảng 2,5 lần so với năm 2010. Doanh thu thuần của ngành sản xuất tăng từ 100 triệu USD năm 2010 lên gần 450 triệu USD năm 2019.

Trong tương lai, phân khúc hứa hẹn nhất đối với các doanh nghiệp nước ngoài là robot người máy và tự động hóa. Theo khảo sát của Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), từ năm 2018 đến năm 2020, 67% nhà đầu tư nước ngoài và trong nước đã tự động hóa một phần hoạt động của mình, trong khi 75% có kế hoạch tự động hóa các nhiệm vụ mới trong ba năm tới.

Năm 2021, thị trường robot và tự động hóa tại Việt Nam ước tính trị giá 184,5 triệu USD. Thị trường chủ yếu do các thương hiệu nước ngoài chiếm lĩnh, bao gồm ABB, Yaskawa, Fanuc, Kawasaki, Kaku, Universal Robot, ... Khách hàng của các thương hiệu hàng đầu này tại Việt Nam chủ yếu là các tập đoàn có vốn đầu tư nước ngoài và tư nhân có quy mô lớn với đủ ngân sách đầu tư vào lĩnh vực tự động hóa. . Họ hợp tác chặt chẽ với các nhà phân phối và mạng lưới đại lý được ủy quyền tại Việt Nam để mở rộng phạm vi hoạt động của mình.
 

Hình ảnh kho hàng Máy đóng gói Mikyo


CHIẾN LƯỢC THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG

Đầu tư vào lĩnh vực máy móc

Các công ty máy móc và nhà cung cấp vật liệu nước ngoài khi xem xét mở cơ sở sản xuất và kinh doanh tại Việt Nam để sản xuất và phân phối sản phẩm của họ trong nước cũng như xuất khẩu sang các thị trường khác cần tính đến khoản đầu tư đáng kể cũng như tính khả thi của việc cấu trúc một chuỗi cung ứng ổn định cho các nhà máy Việt Nam. Mặc dù lĩnh vực cơ khí của Việt Nam đang mở rộng nhanh chóng, nhưng chỉ có một tỷ lệ nhỏ các nhà sản xuất có thể tạo ra các sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế.

Kết nối với các đối tác địa phương

Hợp tác với OEM có thể là một mô hình chuẩn mực với tỉ lệ thành công cao. Tuy nhiên, chiến lược này phụ thuộc phần lớn vào loại máy móc. Các nhà sản xuất trong nước đã chứng minh được năng lực mạnh mẽ của họ về dây chuyền máy móc nông nghiệp trong khi kém cạnh tranh hơn ở các thiết bị công nghiệp phức tạp và máy xây dựng hạng nặng.

 

 

Liên hệ